Một mẩu vườn nhỏ

Thi thoảng mình sẽ rơi vào trạng thái vô cùng bi bét: không làm gì, nghĩ cái gì cũng tiêu cực, không thể duy trì những việc mình nên làm (vì thế càng cảm thấy tồi tệ hơn). Giai đoạn này luôn quay trở lại đều đặn như… đến ngày vậy ( . _ . ). Mỗi lúc như vậy, mình luôn thấy vô cùng thê thảm vì cảm thấy… thê thảm.

Trong những giai đoạn này mình rất sợ đọc hay xem cuộc sống “hoàn hảo”, đẹp đẽ của người khác. Ví dụ như người ta chia sẻ thói quen, hoạt động trong một ngày của họ, toàn những thứ tốt cho sức khoẻ, tốt cho bản thân… Mình ít thấy được động viên mà thường chỉ thấy tụt tinh thần hơn. Cảm giác giống như càng lớn, càng ít việc mình thực lòng muốn làm mà chỉ những việc nên làm-phải làm thì càng nhiều lên, chồng chất lên.

Trong những ngày cùng cực (về tinh thần), chỉ còn một việc mình vẫn làm đều đặn: đó là tưới cây. Không thì chúng nó chết ngóm mất. Mình có một cây hoa nhài nhỏ, vẫn đều đều mỗi tuần ra… một bông hoa 🙂 . Thêm một chậu cây trồng rau thơm lung tung. Mình mua một cây basil, một cây tía tô Nhật, cao khoảng một gang tay giá 150¥. Trong tuần đầu tiên mang về, hai cây đều héo úa dần, teo tóp, thân thì đen lại. Chán kinh lên được!

Sau đó mình vẫn tưới vào đất. Rồi bỗng một ngày cây basil hồi sinh mạnh mẽ, ra lá ầm ầm, giờ đã cao gần gấp đôi so với lúc mới mua về. Mình hí hửng lắm, ngày nào cũng tưới chỗ cây basil.

Một vài tuần sau, từ chỗ cọng tía tô héo quắt, bỗng nhú ra lá mới bé xíu xíu. Không biết vì lý do gì, lúc ấy mình cảm thấy xúc động vô cùng. Một cái cây nhỏ bé, tưởng đã chết ngắc bỗng lại hồi sinh, không cần tác động gì (mình không tưới nước mấy, không bón cái gì cả). Sức sống mãnh liệt của tự nhiên quả thật không thể đùa được.

Nếu bạn cảm thấy mình đang vô cùng tệ hại, ở một tình trạng không thể bi bét hơn được nữa, giống như cái cây tía tô héo quắt của mình, bạn vẫn có thể hồi sinh vậy, chúng ta có thể mạnh mẽ hơn chúng ta tưởng đấy. Lúc nào mệt quá thì chỉ nên nghĩ chuyện nhỏ, làm chuyện nhỏ thôi!

Em tía tô nhà mình.

Văn hoá day dứt

Bài viết thể hiện quan điểm sống riêng của người viết. Không bắt buộc ai phải nghe theo. Nên cũng đừng ai phải bắt mình theo quan điểm của bạn.

Mình mới học được một khái niệm mới: “em gái trà xanh”. Nó cũng na ná như “em gái mưa” thêm bội phần hãm vậy. Mình nhận ra từng va phải không ít chai trà xanh trong đời. Và mình nghĩ, chắc ai cũng từng có vài chai trà xanh trong đời.

Điều làm mình thắc mắc là điều gì đã tạo nên những em gái trà xanh? Họ suy nghĩ gì trong lúc làm những việc ấy? Liệu khi nhìn lại họ có nhận ra mình đã từng không ra cái thể thống gì?

Mình chỉ có một mục đích tối thượng trong cuộc đời là không phải nuối tiếc điều gì. Mình không muốn lúc hấp hối mà phải ước giá như. Điều này áp dụng trong mọi khía cạnh cuộc sống của mình, từ công việc cho tới tình cảm. Mình rất ít khi nhìn lại quá khứ và thấy ân hận với quyết định hiện tại (có một số ít thứ mình ân hận, như việc đáng nhẽ mình nên học hình hoạ cẩn thận hơn hồi ĐH). Mình đã thích ai chắc chắn mình sẽ nói ra. Nếu bị từ chối mình sẽ thôi ngay và không bao giờ nghĩ tới tình cảm đó nữa, quên luôn cả con người đó. Nếu có ai thích mình mà mình không thích họ, mình cũng sẽ thẳng thắn dứt khoát ngay từ đầu để họ khỏi đầu tư hi vọng. Mình cũng sẽ hiếm khi nhắc lại chuyện đó với người khác (mình rất cảm thông với việc tình cảm không được hồi đáp). Mình ghét những mối quan hệ không được đặt tên. Hoặc bạn là bạn. Hoặc yêu là yêu. Không yêu được mình cũng sẽ không giữ xã giao làm gì.

Với mình, nếu đã là chân ái của nhau, chỉ cái chết mới ngăn cản được. Mọi thứ khác do con người tạo ra đều có thể gạt bỏ (lề thói xã hội, quan điểm…). Nếu không đến được với nhau thì không phải chân ái rồi, không đủ cố gắng, đủ cực đoan rồi. Nên không có gì phải tiếc, phải lưu luyến cả cuộc đời làm gì.

Mình cực đoan một cách lãng mạn như vậy đấy.

Mình nhớ hồi xưa có chuyện một cụ bà đã ngoài 80, li dị chồng với lý do sống với nhau mấy chục năm mà ông ấy chưa một lần đụng tay rửa bát. Dư luận tất nhiên chia thành hai phe, phe ủng hộ và phe phê phán – “Già rồi còn bày đặt. Đã chịu được mấy chục năm sao không chịu nốt?“. Mình thì ủng hộ bà cụ. Chính vì chỉ còn mấy năm sống trên đời nên cụ việc đéo phải quan tâm người khác nghĩ gì?! Những ấm ức, chịu đựng tích tụ hàng chục năm, nếu được giải phóng dù chỉ một ngày trước khi chết mình cũng sẽ làm, và những người như cụ bà ấy cũng sẽ làm. Tư tưởng được thở phào, cởi trói khỏi những định kiến là một cảm giác sảng khoái vô cùng, chắc chắn lúc hấp hối chúng ta sẽ không ân hận vì đã làm vậy. Sau cùng thì cũng là chết mà thôi!

Một trong những lý do chính mình cực kỳ không thích phim Us & Them, không thích thông điệp phim mang lại chính là “văn hoá day dứt”. Việc nuối tiếc, lưu luyến mãi điều gì đó trong lòng thì luôn luôn dễ dàng hơn việc cố gắng làm gì đó để không phải thấy nuối tiếc. Khi xem phim mình cảm thấy hai nhân vật đó không đến với nhau là đúng, có đến được với nhau cũng chưa chắc hạnh phúc gì hơn họ hiện tại. Họ bị đánh gục bởi tự ái, bởi cái tôi quá lớn thì cũng không xứng đáng có được nhau, vậy thôi. Họ có những lựa chọn tầm thường thì sẽ chỉ có được những kết quả tầm thường: một cô vợ nhạt nhẽo không thể đồng cảm, một cuộc sống cô đơn buồn tẻ.

Nhưng cảm giác “giờ chúng ta có tất cả lại không có nhau” như một sự an ủi đồng cảm với rất nhiều người. Vì đa số con người ta luôn chọn việc dễ. Nếu như cái kết của phim Us & Them mà họ lựa chọn dám sai trái với lề thói xã hội, sẵn sàng chia tay vợ để đến với tình yêu mình luôn canh cánh trong lòng, có thể câu chuyện sẽ thú vị hơn nhiều. Và có thể họ sẽ nhận ra ối giời ơi chúng ta không nên đến với nhau hahhahahahaha.

Đây cũng là một tâm lý phổ biến, không có được cái gì thì lại thấy tiếc hơn. Ví dụ những cô gái có nhiều vệ tinh vây quanh. Chả thích vệ tinh đó đâu nhưng thích việc được vệ tinh đó xoay quanh. Nếu vệ tinh có chủ thể mới để xoay quanh là lập tức cô gái ấy phải moi móc ngay đứa kia là ai, có gì hay ho hơn mình mà hút được vệ tinh của mình. Hoặc thích cảm giác ai đó luôn còn giữ một chỗ trong tim cho mình, bất kể sau này hai người ra sao. Ai chẳng thích được người khác hết lòng vì mình. Hầu hết crush cũ (không phải ex đâu nhé), và thậm chí không phải crush của chồng mình đều từng stalk, hay tệ hơn là chọc ngoáy mình (có cô còn lấy chồng rồi). Đây chẳng phải là văn hoá day dứt hay sao? Bạn bè thì không phải bạn bè. Đây là mối quan hệ kiểu gì? Để làm gì?

Có điều buồn cười là những người mình từng thích và từ chối mình (mình toàn bị từ chối thôi nên làm gì có mống ex nào 🙂 ) sau đó đều muốn làm bạn với mình, thậm chí nhiều năm về sau. Đây là điều mình không bao giờ làm. Nếu không vì buộc phải va chạm, cùng làm việc (không thể tránh thì chịu), chứ đời chả liên quan gì tới nhau thì cố giữ mối quan hệ đó làm gì ạ?

Cuộc đời quá ngắn để yêu những người không yêu mình và lãng phí thời gian với những mối quan hệ không đầu không đuôi các bạn ơi!

Mình biết có bộ phận lớn tin rằng không yêu thì vẫn có thể làm bạn. Cái đó không sai. Nhưng liệu bao nhiêu trong số đó đảm bảo được đã dọn dẹp sạch sẽ cảm xúc cũ, rằng không có gì sẽ lại bùng lên lần nữa? Tại sao phải nhử số phận? (muốn nhử cũng ok thôi, nhưng tại sao vậy?)

Nhiều người vì không đến được với người mình từng yêu tha thiết, sau đó sẽ chọn một phương án an toàn. Một người vừa vừa, mình không ghét. Thế là được rồi, sống với nhau đâu chỉ cần tình yêu, còn là trách nhiệm, tình nghĩa. Với mình, sau cùng mình sẽ chết, thậm chí một cái chết lãng xẹt và vớ vẩn hết sức có thể, mình từ chối thoả hiệp với những thứ nhàng nhàng, từ chối làm một phương án an toàn (vì anh không lấy được cô nọ nên anh chọn em vì anh có thể chọn được em haha). Đúng, chúng ta lấy nhau, chung sống vì trách nhiệm, nhưng cũng cả vì yêu thương nhau nữa. Ai nói chúng ta không thể cố gắng cho tất cả? Hay tự chúng ta nghĩ việc đó khó quá, không thể làm được trước cả khi thử? Có thể chúng ta sẽ thất bại nhưng nếu chúng ta thành công thì sao?

Tại sao những tác phẩm như 50 sắc thái được yêu thích rộng rãi (dù nó dở ói)? Người ta luôn muốn có được những dấu chấm cảm trong đời, một giây phút được nồng nàn, cả về cảm xúc lẫn thể xác. Đó là những mong ước mà xã hội cưỡng ép phụ nữ phải chôn giấu, giả vờ mình không có, giả vờ mình lớn rồi thực tế rồi ai còn tin vào mấy chuyện đó hihi. Giống như trong Những cây cầu quận Madison, một tuần thăng hoa, được giải phóng chính là thứ giữ người phụ nữ ấy không gục ngã trong hàng chục năm tẻ nhạt, bức bối về sau.

Mình có rất nhiều điểm xấu xa, nhưng có một điểm tốt mình đảm bảo: mình luôn đấu tranh đến cùng cho những người mình yêu mến. Nếu mình trân trọng người bạn này, mình sẽ đấu tranh cho người đó, đấu tranh để giữ gìn mối quan hệ. Tình yêu cũng vậy. Mình sẽ cam kết 100% sức lực. (Chồng mình từng nói chưa từng thấy ai cố gắng nhiều vì mình đến vậy. Cảm động quá mà vượt qua cản trở tâm lý yêu xa.) Chính vì vậy mình không chơi với nhiều người, vì mình không đủ sức =)))). Nhưng hết tình cảm thì cũng cắt sạch luôn. Mình không dền dứ, không thả thính, không dây dưa lằng nhằng. Không stalk bồ của thằng từng thích mình mà mình từ chối. Không năm nào cũng trồi lên chúc mừng sinh nhật vẻ thân thiết.

Tất nhiên, mọi điều mình viết ở trên đây, chỉ là quan điểm sống riêng của mình. Nếu ai cũng sống như quan điểm của mình có khi thế giới cũng… loạn (ai cũng cực đoan chắc cuộc sống sẽ hơi… căng thẳng) và lấy đâu những tác phẩm nghệ thuật day dứt nữa =))))). Mình chấp nhận việc chung sống dưới một gầm trời với những người nhân sinh quan khác mình. Cũng chấp nhận việc có thể chúng ta ghét nhau đấy nên tốt nhất nước sông không phạm nước giếng các bạn nhỉ?

C’est La Vie! – Cuộc đời thi vị của Sempé (phần 2)

Cứ lúc nào được nghỉ phép, tôi lại lao đến những toà soạn trong thành phố để gửi tranh. Một vài trong số chúng được nhận và thậm chí được in. Tôi thường ăn mừng việc được in tranh bằng cách tự thưởng cho mình được đi bằng xe buýt, một phương tiện đắt đỏ hơn Métro, nhưng có một điều xa xỉ mà ngày nay không được biết tới: những bến đỗ xe. Bến đỗ xịn cho phép bạn lên xe buýt lúc xe vẫn đang di chuyển, và xuống xe lúc chúng còn chưa dừng hẳn. Người lái xe đợi tín hiệu của người điều phối để kéo dây xích treo ở bến trước khi lái đi. Có những lúc khi người điều phối đứng đằng trước mũi xe và bạn có thể tự tay kéo xích (nó là một cái cần gạt có tay nắm bằng gỗ), lúc ấy bạn thường nhận được một cái nhìn cảm ơn từ những nhân viên của Hệ thống giao thông công cộng Paris, và đôi khi là cả sự kính trọng của những nữ hành khách nhìn bạn như một người đàn ông luôn chủ động.

(đoạn này khó hiểu phết. Mình đã đi google thử xe buýt ở Pháp thập niên 50, nhìn giông giống xe điện ngày xưa ở HN. Xe có hệ thống dây nối ở trên nóc. Chắc ý bác Sempé kể là hệ thống này.)

Một thời gian sau khi giải ngũ, tôi xuất bản một tuyển tập truyện tranh nhỏ tên là “Nhóc Nicolas” trên thời báo Belgian hàng tuần. Tôi gặp René Goscinny, ông ấy lớn hơn tôi chừng 5-6 tuổi. Ông ấy vẽ truyện tranh cho báo này, và cả viết truyện ngắn nữa.

Buổi chiều lúc chúng tôi gặp nhau, ông ấy mời tôi đi ăn tối tại một nhà hàng. Ông ấy hỏi: “Cậu có thích nhím biển không?“. Tôi trả lời rằng không biết món đó, thế nên ông ấy rất hào hứng giới thiệu cho tôi. Để không lép vế, cuối bữa ăn tôi hỏi ông ấy có thích âm nhạc không. Ông ấy đáp lời khẳng định một cách lịch sự. Tôi mời ông ấy qua chỗ mình để nghe hai đĩa nhạc. Ông ấy hẳn nghĩ là tôi đang đùa. Tôi bắt ông ấy leo 6 tầng rưỡi tới phòng của tôi ở khu trung tâm số 18 (trước đây từng là phòng của hầu gái), rồi tự hào khoe hai cái đĩa nhạc tôi có, Pavane pour une infante dèunte của Ravel và một đĩa nhạc Jazz tôi đặt cẩn thận trên chiếc máy nghe nhạc (dạng máy nghe đĩa than cổ).

một trong hai đĩa nhạc duy nhất của bác ý đây 😀

Sau một vài ô nhịp, tôi hỏi ông ấy: “Có bao nhiêu tất cả?” – “Bao nhiêu gì cơ?” – “Bao nhiêu nhạc công đang chơi ấy?” – Hơi ngạc nhiên, ông ấy trả lời: “Ờ… bảy?” – Tôi phì cười. “Anh chả biết gì cả. Có tất cả 16 nhạc công: năm saxophone, bốn trombone, bốn trumpet, piano, bass và trống.” Chúng tôi không nghe bản pavene nữa, có lẽ ông ấy sợ tôi sẽ hỏi về bố cục dàn giao hưởng ở buổi hoà nhạc Colonnes.

Chúng tôi trở thành bạn. Ông ấy đến New York, cuộc sống ở nơi ấy chẳng dễ dàng gì, nhưng cũng thật thú vị. Ông ấy nhìn thấy vài hoạ sĩ biếm hoạ nổi tiếng ở toà soạn và ông ấy còn nói tiếng Anh nữa.

Ông ấy là người lịch sự, kín đáo và dè dặt như tôi lúc bấy giờ. Chúng tôi đều hơi nói lắp một chút. Tôi thường kể cho ông ấy chuyện thời đi học, khi tôi là một đứa trẻ chuyên gây rối. Vì ông ấy đến từ thế giới mới (the New World) nên khiến tôi thấy tự hào đôi chút khi làm ông ấy cười được.

Ba, bốn năm sau một tờ báo địa phương mời chúng tôi làm một dự án. Goscinny viết nội dung còn tôi minh hoạ. Ông ấy nghĩ ra một loạt truyện về một đứa trẻ – nhóc Nicolas – tự kể với độc giả về cuộc đời và bạn bè nó. Những nhân vật này có những cái tên kỳ lạ và nói lắp như: Rufus, Alceste, Maixent, Agnan, Clotaire… Chúng luôn khiến những giáo viên phụ trách phải vất vả. Series này nhanh chóng được yêu thích, René đã tìm được công thức thành công. Hàng tuần ông ấy tới, trong bộ suit màu xanh tím than, một chiếc cà vạt được lựa cẩn thận và chiếc áo sơ mi trắng không tì vết. Lịch thiệp, mỉm cười và một chút lo lắng, ông ấy lấy từ trong túi ra một chiếc phong bì, trong đó có truyện ngắn được gõ cẩn thận trên vài trang giấy. Chúng tôi đã làm được năm cuốn sách nhỏ.

C’est La Vie! – Cuộc đời thi vị của Sempé (phần 1)

Độc giả Việt Nam chắc quen nhất với hoạ sĩ Jean-Jacques Sempé qua bộ sách Nhóc Nicolas mà ông minh hoạ. Nhưng bản thân Sempé cũng là một hoạ sĩ minh hoạ/ biếm hoạ vô cùng thành công. Ông đã xuất bản rất nhiều cuốn artbook vô cùng thú vị.

Nhân mình mới mua được cuốn tổng hợp, có một phần tự giới thiệu của Sempé, về cuộc đời và quá trình đến với nghệ thuật của ông, đọc khá thú vị. Mình xin lược dịch ở đây. Có sai sót gì xin thứ lỗi, nói chung mình vẫn dịch không được hay lắm đâu (may quá tôi đã bỏ nghề dịch).

Bìa sách

Tôi sinh ngày 17 tháng 8 năm 1932 tại Bordeaux (Pháp). Nơi đây, bố tôi – ông Edmond Ulysse Sempé từng làm nhân viên bán hàng cho một công ty thực phẩm trong một thời gian ngắn. Ông ấy từng đạp xe vòng vòng, chở đầy cá mòi, cá cơm, cá ngừ đóng hộp, pate, trong một cái vali nhỏ buộc ở phần giỏ xe trước, đại diện công ty đi chào hàng các cửa tiệm bán lẻ khắp Bordeaux và những vùng lân cận.

Dần dà mọi người bắt đầu sử dụng điện thoại ngày càng nhiều. Thế là cách bán buôn thư thả này đột ngột kết thúc.

Ở tuổi 17, tôi cũng đạp xe đi lòng vòng bán rượu. Tôi lấy mẫu rượu mới mà ông chủ đem về từ vùng Pomerol và Saint-Émilion, đem tới cho những tay buôn rượu, để họ thử đo nồng độ cồn của những mẫu rượu quý giá ấy.

Tôi bị sa thải sau vài sai sót không may. Tôi làm lẫn hết đống kết quả đánh giá rượu, gắn cho lô rượu rẻ tiền thành rượu cao cấp sang chảnh. Tôi phải thừa nhận rằng tôi dành thời gian vẽ lên cuốn sổ ghi chú của công ty nhiều hơn là quan sát dụng cụ đo rượu.

Vì không thể xin được việc gì khác, tôi nhập ngũ. Tôi phát hiện ra rằng nếu tôi đăng ký trước khi bị gọi nhập ngũ, tôi có thể chọn nơi đóng quân, đồng nghĩa với việc cuối cùng tôi cũng có thể tới Paris.

Sáng hôm đến nơi, tôi đi thẳng từ nhà ga tới gặp hoạ sĩ biếm hoạ (cartoonist) Chaval, cùng với những bức vẽ kẹp dưới nách. Ông ấy từng sống ở Bordeaux và ai đó đã cho tôi địa chỉ của ông ấy.

Tôi bấm chuông cửa khoảng lúc 8 giờ kém 15. Chaval vẫn đang mặc đồ ngủ. “Cậu biết đấy, chúng tôi ở đây không hay dậy sớm lắm“, ông ấy nói với tôi, “và thêm nữa, tôi làm việc ban đêm. Một lát nữa hãy quay lại nhé!“. Thế nên tôi đi dạo một chút. Tôi trở lại vào khoảng 8 giờ 15, và Chaval vẫn đang trong bộ đồ ngủ. Tôi xin lỗi rồi lại đi dạo lần nữa, tự nhủ rằng Chaval không phải người sống gấp. Tôi bấm chuông cửa lần nữa khoảng lúc 9 giờ. Ông ấy vẫn đang trong bộ đồ ngủ, nhưng lần này ông ấy quyết định cho tôi vào.

Căn hộ của ông ấy hơi nhỏ và tối, nhưng ông ấy có điện thoại (để bàn), với tôi đó là dấu hiệu của người có địa vị rất cao. Ông ấy xem tranh của tôi và thân tình hỏi vài câu. Kiến thức chung của tôi khá ổn: tôi biết tên của rất nhiều cầu thủ của những đội bóng nổi tiếng và tôi không thể bị nhầm chút gì về Duke Ellington trong thời kỳ 1946-1949. Tôi đã đọc Ba gã cùng thuyền (Ba gã cùng thuyền chưa kể con chó), và tôi vẫn còn thấy buồn cười. Ai đó đã đưa tôi đi nghe Jeanne-Marie Darré chơi Chopin ở nhà hát Théâtre de Bordeaux, và để gây ấn tượng với Chaval tôi liên tục nhắc lại điều mentor* của tôi đã nói khi ấy: “Cô ấy chơi kỹ thuật hơi khô.”

Tôi bị choáng ngợp bởi Chaval. Tôi nghĩ lúc ấy ông ấy chừng 37 tuổi, và tôi đã nhìn thấy ảnh ông ấy trên những tạp chí lớn, nguyên cả trang dành in tranh ông ấy. Ông ấy nói với tôi rằng sống bằng nghề vẽ rất khó khăn, đặc biệt với một hoạ sĩ biếm hoạ.

Tôi nhận thức được rõ ràng tranh mình còn vụng về, thêm nữa tôi thấy thất vọng và nghi ngờ bản thân bởi những thất bại liên tiếp trong việc tìm được nghề nghiệp ổn định. Tôi chẳng thể che giấu được chút gì những điều ấy. Tôi cảm thấy căng thẳng mệt mỏi đến mức trông như đang nổi giận. Khi Chaval xem lại tranh tôi lần nữa, đồng thời cũng trấn an tôi rằng quân đội sẽ lo cho tôi 2 năm tới, tôi thoáng nhìn thấy một bức tranh chép trên tường và hỏi “Đó là cái gì vậy?“. “Đó là bức Igor Stravinsky, của Picasso.” – vợ Chaval – cũng chính là người đã chép bức đó, nói với tôi, “Đẹp đúng không?”. “Vẽ tệ quá.” – tôi trả lời. Cả Chaval và vợ ông ấy nhìn tôi chằm chằm, há hốc, tách cà phê giữ nguyên cách miệng họ 2cm. Chaval nói với tôi, có chút không kiên nhẫn, “Khi nào cậu thấy nó đẹp thì chứng tỏ cậu đã khá lên rồi đấy.”

cái bức bác Sempé chê xấu đây!

Khi bước xuống cầu thang, tôi cảm thấy sụp đổ. Tôi tệ đến mức phải xem xét lại cái mắt mình. Chaval đưa tôi địa chỉ của vài toà soạn, và chỉ cho tôi ga Métro gần nhất tới đó. Tôi bị lạc kha khá, nhưng tôi đã để lại tranh cho quầy lễ tân của hai tạp chí. Tôi viết địa chỉ của mình lên portfolio: Doanh trại Vincennes. Tôi tới doanh trại vào khoảng 4 giờ chiều. Tôi được dặn báo cáo lên cấp trên vào 8 giờ sáng, và giờ thì tôi đang ở trong những chấn song sắt. Mọi thứ diễn ra rất nhanh ở Paris.

(…còn tiếp)

Nói thêm một tý về chuyện học vẽ,

Hồi xưa mình từng viết một bài về Học vẽ bắt đầu từ đâu? Hôm nay nhân chuyện có mấy người bạn mình hỏi về việc tìm lớp học vẽ cho con, mình nghĩ ra thêm mấy thứ.

Bố mẹ mình chưa từng muốn định hướng con cái theo nghệ thuật, càng không muốn con mình lao vào cái nghề “bấp bênh” này (chắc phần lớn phụ huynh đều thế). Đỉnh điểm chính là những cuộc chiến đầy nước mắt và bát vỡ hồi mình học cấp 3 đó. Tuy vậy, không biết vì sao mà từ trước đó, bố mẹ luôn đầu tư cho mình học vẽ rất tử tế, bài bản: lớp tốt, thầy tốt, mua toàn đồ vẽ xịn (còn mua từ nước ngoài về cơ ý). Từ đầu những năm cấp 2 mình đã được học cơ bản chính thống, không phải vẽ chơi chơi tự do, mà luyện từ vẽ khối thạch cao, học về vòng tròn màu, nguyên lý màu sắc, cách dùng màu bột… Chính là cái lớp có ông thầy hay hút thuốc lá, làm cháy cái ba lô của mình đó, nhưng thầy dạy hay, vẫn yêu thầy.

Hẳn lúc bố mẹ mình cho mình học vẽ nghiêm túc nhưng lại không ngờ rằng nó thành ra nghiêm túc muốn theo nghề này :)))). Thế mới khổ chứ! Dù sao cũng phải cảm ơn bố mẹ rất nhiều hihi.

Hội hoạ, cũng như nhiều ngành nghệ thuật, năng khiếu khác, phải khổ luyện mà thành. Thực sự dốc sức, từ càng sớm càng tốt. Những thứ cơ bản, dù sau này vẽ phong cách gì, cũng vẫn phải luyện qua thôi. Luyện sớm thì qua sớm. Picasso hay Akira Toriyama thì ban đầu cũng phải học vẽ hình hoạ cơ bản thôi ấy (trước khi biến thế giới thành những hình khối lập phương, Picasso vẽ tả thực rất đỉnh nha). Monet không biết đã phải vẽ cái hồ súng ấy mấy nghìn lần rồi mới tạo ra được tuyệt tác.

Tranh Picasso thời kỳ đầu nè!

Tất nhiên, không phải cứ học trường lớp chính quy thì mới biết vẽ, mới thành hoạ sĩ. Nhưng ngành nào cũng thế, có học có hơn. Đi học nghệ thuật đừng lo ngại bị thầy cô bắt rập khuôn, thầy cô dở mới thế. Đi học là để có cơ hội được mở mang, được định hướng cho đúng, được chỉ cho những thứ cơ bản nhất, được truyền cảm hứng, động lực. Cũng giống như sáng tác nhạc, kiểu gì cũng phải học chừng ấy nốt nhạc để ghi chép lại được tác phẩm của mình. Như việc cấp 1 mình đã được cho xem tranh trừu tượng của Dali hay ngồi chép tranh Van Gogh. Đó còn là được ở trong môi trường của hội hoạ, cùng với những người thích vẽ (cái này thì tự vẽ ở nhà sẽ không thể có được). Đam mê cần được nuôi dưỡng thường xuyên mới cứng cáp được.

Bạn mình từng kể cho mình một câu chuyện đầy khích lệ. Nó có một người dì bán tạp hoá, người “bình thường” thôi chẳng biết hội hoạ, nghệ thuật gì mấy. Đứa em họ nó từ bé đã mê manga, mê vẽ. Dì nó thấy vậy không hề cấm cản, chỉ đưa ra điều kiện cam kết là tốt nghiệp cấp 3 đi xong làm gì thì làm. Dì vẫn để nó vẽ thoải mái, vẫn đưa nó đi manga festival, còn tìm cả trường ĐH dạy manga, vừa giúp con duy trì đam mê, vừa giúp định hướng đường lối. Bây giờ thì cô em họ ấy đã trở thành hoạ sĩ thiết kế nhân vật cho một cty game của Nhật, ngày nào cũng được vẽ chibi thoả chí rồi kiếm được cả tiền nuôi mẹ.

Đúng là để trở thành hoạ sĩ tốt, không chỉ biết mỗi vẽ mà xong. Vẫn cần kiến thức, cần thường xuyên trau dồi phông nền văn hoá. Tuy vậy, đó phải là hai công việc diễn ra song song. Không thể trở thành hoạ sĩ nếu như việc vẽ bị xếp thứ yếu, sau rất nhiều những thứ khác. Nếu phải học văn hoá thành tài xong mới được nghĩ tới chuyện vẽ thì vẽ mãi mãi chỉ là một thú vui ngoài lề, chẳng đi đến đâu hết. À không, vẫn có thể đi đến đâu đó, nếu thật sự tập trung đầu tư, tuy chậm hơn so với người khác, vì bắt đầu muộn quá mà. Thật may ngày xưa bố mẹ mình không ra điều kiện phải đạt đủ KPI ở trường mới được đi học vẽ. Mà nếu có, mình sẵn sàng đổi điểm 9 điểm 10 để được tiếp tục học vẽ đàng hoàng.

Chắc chắn luôn có những thiên tài, không cần làm gì, học gì, ở nhà tự nhiên vẽ ra được tuyệt phẩm. Mà hiếm hiếm lắm! Còn phần lớn chúng ta, thật an ủi làm sao, có thể đạt được công việc mơ ước bằng cách chăm chỉ rèn luyện, học tử tế, có những người thầy giỏi và có tâm. Vì mình đã có định hướng công việc tương lai từ khi còn rất nhỏ, nên mình tin rằng không bao giờ là quá sớm để đầu tư nghiêm túc cho trẻ con, nếu như chúng bộc lộ niềm đam mê riêng.

p.s: sau này mình có con, bất kể nó có muốn theo nghề của mình hay không, mình vẫn sẽ dạy nó vẽ bài bản, nghiêm túc từ bé. Vì không biết vẽ thì cũng biết xem tranh. Mà biết xem tranh đẹp thì vui thú biết mấy hahaha!

Tôi đã đến với nghề như thế nào? (phần 3)

Bên cạnh việc bắt đầu làm sách với Room to Read kể từ năm thứ 3, nhờ học ở OMEGA, mình có những công việc minh hoạ đầu tiên: minh hoạ cho SGK, cho tạp chí, các sản phẩm in ấn… Ngoài ra thì mình cũng được tham dự một số triển lãm, rồi thi thố này nọ.

Nhờ minh hoạ lặt vặt mình mua được wacom (mà vẫn dùng tới tận năm ngoái, cũng 6-7 năm liên tục mà chưa từng bị trục trặc gì), và không phải xin tiền tiêu vặt bố mẹ nữa (nhưng vẫn được bao ăn ở 🙂 ). Từ lúc kiếm được tiền từ việc vẽ, bố mẹ mình đã bớt lo lắng và thôi phản đối chuyện mình theo ngành này. Sau đồ đạc công việc gì mình đều tự mua. Nói chung cứ phải (gần) độc lập về kinh tế thì mới độc lập về chính trị được các bạn ạ.

Sau khi tốt nghiệp (vừa điểm trung bình để ra trường 🙂 lạy trời), mình không đi làm công ty ngay mà freelance chừng một năm. Mình chẳng lo nghĩ gì nhiều, việc cũng không thiếu (chủ yếu nhờ không phải lo tiền nhà, tiền ăn 🙂 ). Rồi mình được vào làm ở một cty sách, đến chè nước nói chuyện một buổi với giám đốc xong đi làm thôi, chứ cũng không phải phỏng vấn mệt mỏi gì.

Đợt mới đi làm, lương mình là 5 triệu /1 tháng. Chế độ lương ở đấy là: lương cứng + lương sản phẩm + thưởng doanh thu cuối năm (sách nào bán tốt thì BTV cuốn đó sẽ được thưởng theo doanh thu). Sau gần 3 năm đi làm, với chức vụ trên giấy là phó phòng thiếu nhi, lương cứng của mình là 8tr (được nghỉ 3 ngày 1 tuần), thi thoảng có tháng có lương sản phẩm thì lên được 9tr, hiếm lắm có tháng được 10tr. Thưởng cuối năm + thưởng doanh thu (hầu như năm nào mình cũng có sách lọt top 5 best seller nhé) được 13~25tr. Tính bình quân thu nhập một năm của mình (chỉ riêng đi làm văn phòng) là khoảng 125tr gì đó (vào những năm 2014-2017). Thấp bất ngờ đúng không?

Nếu chỉ đi làm văn phòng như thế, mà không được bố mẹ bao nuôi ăn ở, chắc cũng ngắc ngoải.

Tuy vậy, mình cũng không vì lương thấp mà hối tiếc đã đi làm mấy năm ở đó. Thời gian này mình học được rất nhiều thứ hữu ích (đặc biệt là về quy trình xuất bản, việc in ấn, cách làm việc với BTV…), được/ phải làm đủ thứ việc trên giời dưới bể. Nhược điểm là thời gian này mình gần như chẳng sáng tác được gì, vì đã mệt lử với công việc văn phòng.

Khi đứng ở vị trí BTV xây dựng bản thảo, mình ngộ ra thêm nhiều điều khác về việc sáng tác ở cương vị tác giả. Vd như:

Mọi câu chuyện hay đều bắt đầu từ một cảm xúc chân thành. Nhưng không phải cảm xúc chân thành nào cũng trở thành một cuốn sách hay.

– mình nói chứ ai –

(chính vì thế chúng ta cần BTV giỏi, NXB có tâm)

Hay: hầu hết tác giả đều bắt đầu sáng tác bằng việc kể lại câu chuyện của chính mình (một cảm xúc chân thành). Nhưng không phải ai cũng vượt qua được ranh giới ấy. Việc kể một câu chuyện không bắt nguồn từ trải nghiệm thật của cá nhân cần rất nhiều trí tưởng tượng. Đây là vấn đề mình từng kể nhiều lần khi làm việc với các tác giả là những bà mẹ: họ gần như chỉ quanh quẩn mỗi đứa con của mình. Việc những đứa trẻ là nguồn cảm hứng, là muse để bắt đầu câu chuyện hoàn toàn ok, nhưng không phải ai cũng nhận ra được rằng mình đang bị mắc kẹt trong vòng tròn bé tí xoay quanh đứa trẻ ấy, chứ chưa thực sự TƯỞNG TƯỢNG. Hiếm người vượt qua được ranh giới ấy như J.K.Rowling, Harry Potter chẳng phải bắt đầu từ những giấc mơ của con bà ấy hay sao.

Một vài tác phẩm kinh điển hay ho do các ông bố viết cho con/ lấy cảm hứng từ con: Gấu Pooh, Gió qua rặng liễu, Biên niên sử Narnia, Here we are… Bạn có thể thấy điểm chung thành công của các tác phẩm này là chúng ta không chỉ nhìn thấy (thậm chí là không thấy) đứa trẻ cảm hứng ban đầu. Trong gấu Pooh thì gấu Pooh mới là nhân vật trung tâm. Cuộc sống của Christopher cũng không hạnh phúc gì hơn từ sự nổi tiếng của cuốn tiểu thuyết kia.

(mình đang nói về thể loại fiction, còn nếu kể lại chuyện về con mình đúng như thực tế đã diễn ra, vd như sách nuôi dạy trẻ chẳng hạn, thì đó là non-fic. Không nên nhầm lẫn giữa hai thể loại này.)

Thời gian cuối lúc sắp nghỉ làm, mình rơi vào tình trạng bi bét. Sau cùng mình vẫn muốn được sáng tác, được vẽ nhiều hơn suốt ngày đi sửa bản thảo cho người khác (không phải lúc nào cũng gặp được những ý tưởng hay), hay phải quằn quại giữa những drama chốn văn phòng. Sau khi nghỉ việc, mình dần lấy lại cân bằng và viết truyện trở lại, đặt mục tiêu hướng tới thị trường lớn hơn.

Nhiều lúc mình thấy cực kỳ tuyệt vọng, thấy cạn thời gian, tụt hậu trong khi các bạn hoạ sĩ/ tác giả trẻ thì ngày càng giỏi. Nhưng mình đọc được câu chuyện về một hoạ sĩ minh hoạ, bắt đầu học ĐH năm cô đã 33 tuổi, bắt đầu kiếm sống ổn định được bằng nghề năm 40 tuổi. Có một điều thú vị trong ngành minh hoạ cũng như sáng tác nói chung, người ta ít quan tâm đến tuổi hay bằng cấp của bạn hơn bạn tưởng. Có hai điều quan trọng bậc nhất: 1- chất lượng sản phẩm, 2 – thái độ làm việc. Hoặc có những hoạ sĩ/ tác giả Nhật, ngoài 90 rồi vẫn sáng tác đều đều và chất lượng cao ngất. Tất cả những người như vậy khiến mình thấy an tâm, cứ chăm chỉ mà làm việc thôi. Còn làm việc là còn hy vọng hihi.

Có lẽ mình sẽ viết thêm một bài bonus một số tips giắt lưng làm nghề. Để hôm khác, giờ mình mệt quá. Lại còn phải đi nấu cơm… đúng là những hiện thực trần truồng không thể chạy thoát.

Phần 2
Phần 1

Tôi đã đến với nghề như thế nào (phần 2)

Sau khi đỗ ĐH, mình bước vào 5 năm cuộc đời đầy sóng gió, đồng thời có dấu ấn bước ngoặt đáng nhớ.

Năm đầu tiên học đại cương, chưa phân chuyên ngành. Đây cũng là một trong những điều đáng tiếc của mình ngày đó. Lẽ ra mình nên học đại cương cẩn thận và tử tế hơn. Năm đại cương có những môn quan trọng nền tảng cho việc vẽ lâu dài như hình hoạ, ký hoạ, nghiên cứu thiên nhiên hay giải phẫu. Mình học hành láng cháng vđ *ôm đầu*. Thi thoảng mình vẫn có những bài điểm cao… vô tình giỏi giang. Mình đã ghi lại trong cuốn My poetic life.

Tuy vậy, hết năm đầu điểm tổng kết của mình rất cao :v, đứng thứ hai toàn khoá đấy. Đủ điểm để đạt học bổng, nhưng mình đã bị cắt học bổng. Chi tiết vụ drama này mình cũng đã từng kể trên blog (bài nào thì mình quên rồi).

Vì vụ điểm cao nhì khoá (một khóa chia thành 4 lớp), (và tất nhiên) nhất lớp mình, mình bị mấy đứa bỏ mẹ trong lớp suốt ngày cà khịa, kìa “học giỏi nhất lớp” (ts chẳng nhẽ bảo rõ ràng giỏi hơn chúng mày?! Xong chấm bài vẫn chụp bài tao?!). Mình thi được 10 điểm tiếng Anh (a bờ cờ, hello goodbye dễ lắm), xong bị bọn lớp móc mỉa là làm được bài ko nhắc các bạn 🙂 🙂 Nhưng có đứa nào hỏi bài mình đâu ơ kìa ơ kìa?!

Nói sơ sơ vậy để thấy mình drama tràn trề bể phốt từ thầy cô cho tới bạn bè 🙂 🙂 🙂 .

Hồi ấy mình rất là mong manh dễ vỡ, “trái tym” dễ sinh sự, gặp những va chạm đầu đời đã muốn bỏ cuộc. Mình đã định bỏ học ngay năm nhất. Định năm sau thi lại vào ĐH Mỹ Thuật VN á. Mà sau vẫn phải cắn răng cố nốt. Liên tiếp là những quyết định sai lầm.

Trường dựa vào điểm tổng kết năm nhất để xét duyệt chuyên ngành. Mấy ngành hot (như nội thất hay đồ hoạ) tất nhiên yêu cầu điểm cao (đấy là trường nói thế chứ cũng chẳng biết thực hư thế nào). Ngày đó mình nghĩ mình phải thực tế, đứng đắn lên thôi, không thể vớ vẩn mãi. Với điểm cao thế này, mình chắc chắn vào được bất kỳ khoa nào mình chọn. Thế là mình chọn nội thất với suy nghĩ nội thất sau này… kiếm được nhiều tiền. Nhưng mình quên mất là muốn kiếm được nhiều tiền thì mày phải biết làm nghề đã 🙂 . Điều nuối tiếc thứ hai thời ĐH là mình đã không đăng ký vào một khoa vui vẻ, đúng như con tim =)). Mình luôn nghĩ nếu mình chọn khoa đồ chơi hẳn thời ĐH của mình sẽ rất phấn khởi. Mình thích làm những thứ vui vẻ, nhố nhăng, đáng yêu, hạnh phúc.

Những quyết định dối lòng khiến mình khổ sở suốt 4 năm học còn lại. Thật sự khổ sở. Mình luôn trong tình trạng không biết mình đang học cái gì, mình đang làm cái gì, sau này có tự kiếm sống được không… Mình nhận ra một sự thật nghiệt ngã rằng: có rất nhiều đứa trẻ được nhận định là có năng khiếu, vẫn có thể chúng lớn lên chẳng thành cái gì cả, chẳng đạt được thành tựu gì đáng kể.

Từ đó mình luôn tự nhủ với bản thân là không bao giờ, không bao giờ đi ngược lại với lòng mình, không vì bất cứ lý do gì, nếu không muốn phải khổ sở rất lâu sau đó.

Đến cuối năm thứ 2, mọi sự có khởi sắc thêm “nhiều” chút. Lúc này mình bắt đầu đi học thêm một trường nữa – trường OMEGA. Mình đã học song song hai trường thiết kế cùng một lúc (mình còn tham gia hội sinh viên AIESEC nữa hahahaha, hoang tưởng bản thân là có thể chạy được hết mọi thứ). Mình là khoá đầu tiên cũng là cuối cùng của OMEGA. OMEGA là một dự án thử nghiệm của trường Arena FPT. Ở OMEGA mình gặp được một trong những người thầy giỏi nhất (và có tâm nhất) trong suốt quãng đời đi học của mình, và những người bạn mình còn chơi đến tận bây giờ. Nhờ có OMEGA, mình đã có những kiến thức nền tảng về graphic design, đặt tiền đề cho việc học nhiều thứ khác của mình sau này.

Sang đến năm thứ 3, mình có cuốn picture book đầu tiên được xuất bản, nhờ một cuộc thi – dù ko được giải – với Room to Read Vietnam (đã từng kể). Đây là một dấu mốc quan trọng với mình. Mình không cảm thấy hoang mang nữa. Và không chỉ ở việc có sách được xuất bản, mà còn ở phản ứng của những đứa trẻ khi đọc sách của mình. Sự yêu thích sâu sắc, mãnh liệt (kiểu thuộc lòng cả cuốn sách – mình viết ra còn không nhớ được thế, hay tối nào cũng đòi ôm vào giường ngủ cùng, tự đóng vai các nhân vật rồi diễn kịch…) của chúng nó khiến mình tin tưởng rằng mình đã tìm được con đường phù hợp rồi.

Sẽ có một vài khoảnh khắc may mắn trong cuộc đời, bạn được trải qua một cảm xúc sâu đậm, một cảm giác đúng đắn vô cùng – là giây phút bạn sẽ có thể bám lấy suốt về sau mỗi lúc bản thân muốn từ bỏ.

Không phải lúc nào mình cũng thấy tự tin. Mình khủng hoảng không ít (và không nhẹ). Có cả những khoảng thời gian cả bạn thân cũ bảo mình đã hết sáng tạo rồi đó =))). Khi ấy mình luôn nhớ lại những câu chuyện đầu tiên từng viết/ vẽ, nhớ rằng mình đã từng có thể làm một vài đứa trẻ vui vẻ, phấn khích thì mình cũng có thể làm điều ấy một lần nữa.

Mình không có một mục đích hay mơ ước dài hạn, giả sử như trở thành một tác giả nổi tiếng bậc nhất VN. Mình chỉ có từng mục đích nhỏ. Như trước khi mình được xuất bản cuốn Nắng ơi là nắng, mình chỉ nghĩ muốn được xuất bản MỘT cuốn sách. Thế thôi. Như hiện giờ, mình đã rời khỏi VN. Mục đích nhỏ tiếp theo của mình là được xuất bản một cuốn sách với một NXB nước ngoài, bên ngoài biên giới VN. Mình chỉ tập trung vào điều đó thôi.

Tạm thế, đến giờ mình đi dạo rồi. Hẹn gặp ở phần 3 (phần cuối) nhé :D.

Phần 3
Phần 1

Tôi đã đến với nghề như thế nào? (phần 1)

Hôm nay tạm ngưng không “học bài” nữa. Mình sẽ kể chuyện đến với nghề (do cũng có mấy bạn hỏi vụ này), hi vọng sẽ gợi cảm hứng đôi chút ^^.

Chuyện nghề nghiệp của mình là một con đường tương đối thẳng thớm. Mình hầu như luôn luôn biết mình muốn gì, thích gì kể từ khi mới là một đứa trẻ mẫu giáo. Rất ít khi dao động. Mình cũng là đứa trẻ hay được khen có năng khiếu, hay một tác giả trẻ nhiều tiềm năng (đây là niềm vui thủa ban đầu dần biến thành cơn ác mộng. Mình sẽ nói rõ ở đoạn sau).

Từ nhỏ, cũng giống như nhiều đứa trẻ khác, mình rất thích vẽ, rất thích nghe chuyện, thích kể chuyện. Còn một câu chuyện mình và đứa em thân thiết sáng tác hồi mình 10 tuổi (em mình 9 tuổi) vẫn giữ được tới giờ, tên là Vương quốc Hoa quả, kể về dũng sĩ Dưa Hấu giải cứu vương quốc hoa quả khỏi đám sâu hại, rồi cưới được công chúa Chuối (con đức vua Cà chua). Sau hai người đẻ ra hoàng tử… Dưa chuột (nghe nó lại hợp lý vl).

Mời các bạn đọc thử dưới đây:

Còn rất nhiều “tác phẩm” khác đã bị thất lạc, không may mắn được người lớn lưu giữ hộ cho như Vương quốc hoa qủa. Mình nhớ còn có truyện gì mà ăn nho xong nhổ hạt bừa bãi thế là cây nho mọc lên khổng lồ, quấn lấy người trả thù (. _ . ) (so dark, I should sell it to DC). Hay truyện về các bạn Tròn, Vuông, Tam Giác (literally là nhân vật có hình dạng như vậy) học cùng lớp 1, về sau xuyên không về quá khứ quậy tưng bừng.

Tuy vậy, trong cuốn lưu bút hết cấp 1, mình có viết ước mơ sau này trở thành… tiến sĩ =)))). Tiến sĩ gì thì không biết. Có lẽ đây là ảnh hưởng từ sự mê việc học giỏi, con nhà người ta của mẹ mình. Mình nghĩ viết thế nghe có vẻ… ngầu. Với cấp 1 mình cũng học giỏi đi =))))). Tưởng thế đã đủ để làm tiến sĩ.

Về sau, nhờ sự kỳ thị và ám ảnh với môn Toán, mình càng chắc chắn muốn theo ngành Mỹ thuật hơn. Vì biết thi Mỹ thuật không phải thi Toán. Cấp 2 mình có được bố mẹ cho đi học vẽ ở Cung thiếu nhi HN, sau đó là CĐ Nghệ thuật HN. Mấy lớp học này với mình đều rất vui và nhiều… vinh quang. Ông thầy dạy ở Cung thiếu nhi của mình là một nghệ sĩ điêu khắc, theo phong cách đương đại, trừu tượng. Thầy rất là hay ho, toàn đem artbook của danh hoạ thế giới cho học trò xem rồi còn chép tranh lại. Thầy giới thiệu Dali cho bọn trẻ con một cách rất buồn cười, vẫn nhớ đoạn ông ý tả tranh Dali eo ơi hai người ngồi múc thịt nhau ăn lè :))))))). Nếu thầy khen tranh ai sẽ luôn có giải thích cụ thể tại sao tranh này đẹp, đẹp ở chỗ nào. Khi học lớp ở CĐ nghệ thuật HN thì cao cấp hơn một chút. Đây là nơi mình bắt đầu được làm quen với vẽ hình hoạ (từ vẽ khối cơ bản) và sử dụng màu bột. Mình nhớ ông thầy dạy mình rất hay hút thuốc lá, có lần làm rơi tàn thuốc lá làm cháy cái balo của mình 🙂 .

Ngày nhỏ mình vẽ rất nhiều. Vô cùng say sưa. Bố mình đi công tác có lần mua cho mình cả một vali màu dạ. Xinh ơi là xinh ấy. Ngoài bìa có hình cô bé dưa hấu trên bãi biển. Mình đã xách cái vali con con màu đó đi thi vẽ ở trường và được giải nhì (nhớ là được thưởng hộp màu và vinh danh trong buổi chào cờ đầu tuần). Về sau có hôm mẹ mình tức ông anh mình bỏ học đi chơi điện tử đã ném vỡ đôi cái vali màu của mình, làm mình khóc mất mấy hôm.

Hồi cấp 1 trường mình (aka Thực Nghiệm đó) có truyền thống treo tranh học sinh khắp trường. Các cô giáo dạy mỹ thuật sẽ là người chọn tranh. Không năm nào quyển vở vẽ của mình còn trang nào hết. Hồi ấy bố đóng ghim vở vẽ bằng giấy A4 cho mình. Cô giáo Mỹ thuật mình lúc nào cũng kêu sao bố em đóng chắc thế này không tài nào xé được :v. Về sau mình cũng bảo bố khỏi phải đóng chắc vì đằng nào các cô cũng xé hết vở của con thôi :v.

Lên cấp 2 mình có phi vụ vẽ hộ tranh cho nửa lớp. Xong tranh vẽ hộ toàn được 10 mí lại cô đem khoe khen nức nở. Tranh vẽ cho mình thì được 8 điểm thế là mình ngồi khóc tu tu :)))). Cô giáo lại cứ tưởng mình ganh vì bạn được điểm cao hơn. Mà mình thì ko dám nói là tranh kia cũng em vẽ cô ơi =))))))). Còn có lần mình vẽ con mèo đang nằm gãi tai, ông thầy mình một mực em nhờ người lớn vẽ đúng không. Mình bảo em vẽ mà. Thầy bảo em can lại tranh đúng không =)))))). Nói chung thầy nhất quyết không tin trẻ con cấp 2 vẽ được con mèo thế á. Mà thôi… kệ thầy, được cái thầy đẹp trai nên thôi tha thứ đi!

Lên cấp 3, mình nằng nặc đòi thi ĐH Mỹ thuật. Và từ đây nổ ra cuộc chiến dai dẳng đầy nước mắt với bố mẹ mà mình đã từng kể rất nhiều trên blog này. Sau cùng bố mẹ cũng chịu thua và cho mình đi học ôn thi vẽ. Cái lớp luyện thi của mình có lệ là bài tốt (bài bố cục màu) của khoá trước sẽ để lại để các em sau chép lại luyện tập. Mình chép được hai bài thì chán quá, tự nghĩ luôn thì từ ấy toàn được giữ bài lại. Rồi đến lúc chuẩn bị thi, cái cô chủ lò luyện thi đấy lại đề nghị bán lại mấy bài đó cho tụi mình (những đứa được giữ bài làm mẫu) để làm tài liệu ôn thi (hồi đó vẫn còn trò lén mang ảnh bài mẫu thu nhỏ vào phòng thi để chép cách phối màu đó). Các bạn có thấy đcmn ko hahhahahahahahahhaahah. Thế là mình tung hê, đã vẽ ra được mấy bài đó thì sợ đếch gì đi thi không nghĩ ra được. Mình hồn nhiên đi thi không tài liệu gì sất. Thế cho nó trong sạch, sòng phẳng.

Sự vụ đi thi ĐH của mình cũng đầy kịch tính. Mình chơi hẳn cả tuần trước khi thi. Đùng cái đến hôm thi thì mình lăn quay ra ốm :). Mình nhớ hôm đầu thi văn đầu óc mình choáng váng, vừa tay cầm bút viết, tay còn lại giữ khăn mùi soa vì nước mũi chảy ra không ngừng, người nóng hầm hập (mình được 6.5 văn, bị ông thầy dạy văn chửi cho một trận viết lách thế nào được có 6 điểm rưỡi thế hả). Mình thi hai môn vẽ, còn là 1 môn 6 tiếng, 1 môn 8 tiếng 🙂 🙂 .

May nhờ hai môn vẽ điểm cao nên mình vẫn thừa điểm đỗ vào trường trong sự bàng hoàng của rất nhiều người. Nhất là cái bà giáo lò luyện thi định bán lại bài của mình cho mình 🙂 .

Dài quá, đã đến giờ mình phải đi nấu cơm trưa rồi. Phần học ĐH tiếp mình sẽ viết sau. Hẹn phần 2.

Phần 2
Phần 3

Kể tôi trên giấy (tiết 3)

PHƯƠNG PHÁP 3: LIÊN TIẾP

Phương pháp này phải giải thích chi tiết hơn một chút. Cách này là kể chuyện bằng việc liệt kê theo trình tự thời gian. Khác với phương pháp liệt kê số 1, với cách này, nhất thiết phải bám lấy một trục thời gian cụ thể.

“một ngày nọ, tao nghĩ về quá khứ, rồi lại đến tương lai…”
chim hồng thiền sư. mình vẫn muốn viết thêm truyện cho nhân vật này.

Vì kể chuyện theo trình tự thời gian thì kể… bao nhiêu cũng được. Tuy không giới hạn độ dài thời gian (có thể là một phút cũng có thể là một thế kỷ) nhưng tốt nhất chỉ nên kể một tình huống: mở – thân – kết ngắn gọn. Không nên lồng ghép nhiều tình huống sẽ khó sắp xếp. Để luyện tập, bạn có thể thử bằng bố cục 4 khung.

Có một cuốn rất hay cũng thường dùng phương pháp này, Deep dark fears (đã được xuất bản ở VN với tên Những nỗi sợ sâu thẳm).

Khi còn nhỏ, tôi biết rằng nếu quay vòng vòng thật nhanh, tôi sẽ đi tới một chiều không gian khác, giống hệt nhưng là giả. Nếu tôi quay lần nữa, tôi sẽ trở về nhà. Tôi quên mất mình đã quay bao nhiêu vòng rồi.

Cái khó của phương pháp này là việc bạn chọn thời điểm/ chi tiết gì để kể. Có một bài tập rất hay để luyện là: tóm tắt. Bạn có thể thử tóm tắt một câu chuyện/ cuốn sách/ bộ phim bằng 4 câu/ 4 gạch đầu dòng, mà vẫn đủ để người khác nhận ra tác phẩm ấy.

Bạn có thể tham khảo series tóm tắt các tiểu thuyết kinh điển bằng hai khung truyện này:

Abridged Classics
Brief Summaries of Books You Were Supposed to Read but Probably Didn’t
John Atkinson
Kiêu hãnh và định kiến: Cô gái ghét mấy kẻ quý tộc giàu có. Đợi đã, à cô ấy không ghét.
Đồi gió hú: Hai anh chị em (đại khái thế) yêu nhau. Rất là mờ mịt.

Hôm nay mình hơi mệt, nên hết tiết 3 ở đây.

Tiết 1
Tiết 2

Kể tôi trên giấy (tiết 2)

PHƯƠNG PHÁP 2: ĐỐI LẬP

Đúng như cái tên, ở cách kể này, bạn cứ chọn các cặp nội dung đối lập nhau là được.

Đối lập ở đây có thể là đối lập về hình dạng (to – nhỏ, béo – gầy, mỏng – dày), cũng có thể là đối lập về tính chất (nóng – lạnh, dễ – khó, già – trẻ)… Cái đối lập này có thể nhìn thấy bằng mắt thường, hoặc chỉ cảm nhận được bằng cảm giác hoặc đánh giá qua suy nghĩ.

Phương pháp này đặc biệt thích hợp khi bạn muốn kể một câu chuyện về sự thay đổi, nhấn mạnh vào sự thay đổi ấy. Ưu điểm là ấn tượng nhanh, mạnh. “Đấm” phát vào chủ đề ngay.

Thậm chí bạn không cần phải biết vẽ.

Đây là một tranh nháp mình vẽ cách đây 6-7 năm.

“Càng lớn ước mơ của tôi càng nhỏ đi.”

Đây cũng là phương thức chung của loạt meme: “tôi nghĩ…” vs. “thực tế là…”

Phương pháp này hay được dùng trong picturebook dạng simple concept (dạy các độc giả nhỏ về những khái niệm cơ bản nhất. Vd như sáng – tối, trong – ngoài, trước – sau). Có một cuốn picturebook không lời từng được Nhã Nam xuất bản, cuốn này đã đạt nhiều giả thưởng lớn, tên nó là… TRƯỚC-SAU luôn :v . Tập hợp những bức tranh đối lập, thể hiện sự thay đổi, phát triển của tự nhiên, cũng như đời sống con người.

Chính là bàn tay tôi trong ảnh 🙂

Chỉ cần thế thôi mà cũng thành sách đoạt giải thưởng lớn thế giới đó :D. Hehe.

Bài luyện tập cho phương pháp này là viết ra những cặp từ đối lập nhau. Càng random càng tốt, bạn sẽ tìm được những sự đối lập thú vị, khác lạ.

Hết tiết 2.

Tiết 3